Chào mừng ngày bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 - Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh!
Liên kết website
Chuyên mục
Thăm dò ý kiến
Các anh, chị vui lòng cho biết ý kiến về công tác giải quyết thủ tục hành chính của Ban Dân tộc:
Video clip
Văn hóa - Thể thao
Văn hóa dân gian của dân tộc Chơro ở Đồng Nai
Cập nhật 29/05/2018 09:56 Xem với cỡ chữ

​          Người Chơro là một trong bốn dân tộc bản địa ở Đồng Nai, gắn bó với mảnh đất Đồng Nai nhiều đời nay. Hiện nay, ở Đồng Nai có khoảng 16.169 người Chơro xếp thứ 4 trong tổng số 37 thành phần dân tộc. Người Chơro sống tập trung tại xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu; xã Túc Trưng huyện Định Quán; xã Bàu Trâm thị xã Long Khánh; xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc; xã Phước Bình (huyện Long Thành), xã Xuân Thiện (huyện Thống Nhất) ...

            Vốn văn hóa văn nghệ dân gian của người Chơro rất phong phú, đa dạng ở nội dung và hình thức thể hiện với nhiều thể loại như: chuyện kể, hát dân ca, múa và biểu diễn nhạc cụ…

            Chuyện kể: Người Chơro không có chữ viết nên chuyện kể của họ được lưu truyền qua nhiều thế hệ bằng hình thức truyền miệng. Chuyện kể Chơro phong phú về nội dung, ngữ nghĩa, đa dạng về hình thức thể hiện, kết cấu... Nội dung thường giải thích hiện tượng thiên nhiên, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, nguồn gốc các loài, đề cập quan hệ xã hội, lịch sử, gia đình… Những câu chuyện đến nay vẫn được người Chơro lưu giữ như: Chim chèo bẻo, Cọp và thỏ, Rùa và khỉ, Cô gái lấy cọp… tạo nên một nét đặc trưng trong văn hóa dân gian người Chơro.

            Hát dân ca: Những bài hát của dân tộc Chơro đều không biết người sáng tác, được truyền miệng qua nhiều thế hệ, thường hát trong các dịp lễ hội, sinh hoạt thường ngày như: đi làm nương rẫy, hát ru con, những lúc vui, buồn. Nội dung bài hát phản ánh được những tình cảm giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, những vấn đề xảy ra xung quanh cá nhân và cộng đồng dân tộc. Hiện nay, những bài hát của dân tộc Chơro chỉ còn một số người lớn tuổi thuộc lời, biết hát; một số đồng bào (thanh, thiếu niên) chuyển ngữ giai điệu những bài hát của người Việt và hát bằng tiếng dân tộc.

            Múa: Nghệ thuật múa của người Chơro ngày nay đã phai mờ dần trong đời sống cộng đồng. Trước đây, các dịp lễ hội những phụ nữ lớn tuổi hay thanh niên nam nữ thường hay múa tập thể, các động tác theo nhịp cồng chiêng, đàn bầu… Những điệu múa có tính mô phỏng, phản ánh nhiều lĩnh vực trong đời sống như: lao động, sinh hoạt thường nhật, phong tục tập quán, văn hóa tâm linh… Thông qua điệu múa nhằm gián tiếp truyền dạy kinh nghiệm sống, các thức lao động, nhận thức giá trị văn hóa của tộc người. Các điệu múa như: múa dâng (bánh dày), múa chim chèo bẻo, múa chà gạt, múa chọc lỗ tra hạt, múa cúng Thần lúa (Yangva).


Các điệu mú dân gian Chơro

            Trong văn nghệ dân gian truyền thống người Chơro thường sử dụng các loại nhạc cụ truyền thống và phố biên như: Bộ cồng (06 chiếc), bộ chiêng (07 chiếc) ngoài ra còn có kèn môi, kèn bầu, kèn lúa, đàn tre. Các nhạc cụ được sử dụng trong các dịp lễ hội, sinh hoạt múa hát cộng đồng, lễ cúng Thần lúa, Thần rừng… Ngày nay, lễ hội ít được tổ chức, những nhạc cụ cũng mai một, cơ hội để hưởng thụ, nhận biết của đồng bào cũng ít đi. Riêng cộng đồng người Chơro ở Phú Lý hiện nay còn lưu giữ được bộ chiêng với 6 chiếc, cùng đội ngũ nghệ nhân am tường được 6 bài biểu diễn chính cũng như những kiến thức cơ bản của nghệ thuật đánh cồng chiêng.

   Cồng: được gọi là Goong. Nhạc cụ gồm nhiều bộ như bộ có 5 chiếc, 6 chiếc hoặc 7 chiếc. Loại nhạc cụ này trên mặt phẳng đánh có núm tròn nhô lên. Đây là loại nhạc cụ khá phổ biến và quan trọng được phụ nữ Chơ ro sử dụng trong các dịp lễ hội cộng đồng, đặc biệt trong lễ cúng thần linh và lễ tang. Goong được treo lên thành từng dàn. Phụ thuộc vào cách treo mà người đánh có thể đứng hoặc ngồi. Nếu dàn Goong treo cao thì người đánh ở tư thế đứng, dàn Goong treo thấp thì người đánh ở tư thế ngồi.

Thông thường mỗi dàn Goong khác nhau về định âm thang  âm, kích cỡ và cách quãng. Bộ Goong được phân định Goong mẹ đến Goong con (Goong lớn đến Goong nhỏ). Tác động lên u núm của Goong để tạo âm thanh. Người Chơ ro dùng thanh gỗ, thân cây gòn, cây tầm phúc nhưng tốt nhất là các thân dây mây, chắc, dẻo bền. Nếu dùng cây gỗ khô để đánh thì người Chơ ro thường buộc quấn vào đầu cây một lớp vải để khi đánh vào giảm độ vang chói của kim loại.


Về mặt xử lý âm thanh, sắc thái của nhạc cụ Goong tương tự như nhạc cụ Ching. Chỉ khác nhau về vai trò tay trái khi tác động để tạo âm lớn, nhỏ trong sáng hay mờ của Goong không được thuận tiện như Ching. Lòng Ching trơn nên những động tác tạo âm (bấm, buông) trong lòng còn Goong do có lõm trong tạo u núm mặt trên nên người đáng tạo âm theo chuẩn tiết tấu bằng cách nắm, buông trên vành.

Chất liệu làm nên bộ Goong chủ yếu bằng kim loại, trong đó chất liệu bằng đồng đóng vai trò chủ đạo. Mỗi chiếc Goong có độ nặng nên khi diễn tấu thường được đặt vị trí cố định. Có hai tư thế khi đánh Goong: đánh trong tư thế ngồi hoặc tư thế đứng. Người Chơ-ro ở Lý Lịch chỉ sử dụng Goong trong lễ cúng thần linh và trong lễ tang. Điều cốt yếu phải giữ là phải diễn tấu đúng nội dung bài bản theo hoàn cảnh. Giai điệu diễn tấu trong lễ hội có nhịp tấu vang, thể hiện sự vui mừng của con người và chào mời thần linh. Giai điệu diễn tấu trong lễ tang ma thi tiết tấu nhẹ, mang âm hưởng buồn, cảm thông, chia xẻ, nhịp vừa và chậm. Khi Goong tấu lên thì Goong con tấu lên trước, Goong mẹ phụ họa theo sau. Điều này có tính chất đối nghịch với nhạc cụ Ching.

   Chiêng: được người Chơ ro gọi là Chinh. Hiện nay, trong cộng đồng người Chơ ro tại ấp Lý Lịch xã Phú Lý huyện Vĩnh Cửu của tỉnh Đồng Nai còn sử dụng. Đây là bộ nhạc cụ có bề mặt tròn, trơn phẳng. Một bộ (hay dàn) Ching có 6 chiếc.

Cấu tạo: Chất liệu làm nên bộ Ching bởi kim loại đồng và một ít kim loại khác, chủ yếu là gan. Khi có vật tác động vào tạo nên tiếng vang lớn, ngân dài. Khi sử dụng, người Chơ ro dùng nắm bàn tay tác động lên bề mặt trơn phẳng theo từng giai điệu tiết tấu âm thanh. Đồng thời tay còn lại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp diễn tấu. Bàn tay đặt dưới mặt lòng Ching lúc úp vào hay xòe đỡ với những cách ấn vào đỡ nhẹ hay thả ra (bấm hay buông) để xử lý sắc thái âm thanh lớn, nhỏ, trầm bổng theo giai điệu mà nội dung cần thể hiện.

Khi sử dụng Ching thì đeo vào vai và đánh bằng tay. Người đàn ông hoặc người phụ nữ đều có thể đánh được. Trong phối đánh không phân biệt giới nhưng theo thứ tự của bộ nhạc cụ. Ching là loại hình nhạc cụ phối hợp diễn tấu tập thể. Trước đây, trong cộng đồng Chơ ro, chỉ có những gia tộc, gia đình có điều kiện kinh tế khấm khá mới sắm được bộ nhạc cụ này. Ching được sử dụng trong các lễ hội cổ truyền của người Chơ ro.

Mỗi bộ Ching ở từng cộng đồng Chơ ro có khác nhau về dàn và định âm, chức năng riêng biệt. Tính năng của Ching rất quan trọng. Về mặt xã hội, thì người nào biết tấu diễn Ching hay sở hữu bộ Ching cũng là niềm tự hào trong cộng đồng. Ching là loại nhạc cụ có lợi thế về tạo nên giai điệu hơn hẳn với Goong. Trong dàn Ching, người Chơ ro có thể chọn ra một bộ ba chiếc để cho những người diễn tấu thi tài với nhau.

 
Bộ chiêng đồng

 


Biểu diễn chiêng


Bộ Ching của người Chơ-ro tại Lý Lịch, theo già làng Nguyễn Văn Nỗi cho biết có các tên sau:

- Ching lớn nhất gọi là Mê – tức Ching mẹ

- Ching lớn thứ hai gọi là Pap – tức Ching Cha

- Ching lớn thứ ba gọi là Kon – tức Ching con

- Ching lớn thứ tư gọi là Xnau – tức Ching cháu                

- Ching lớn thứ năm gọi là Ching Xne – tức Ching cháu (Chắt)

- Ching nhỏ nhất gọi là Tê quach – tức Ching cháu (Chít)

Khi đánh Ching, Ching mẹ phải lên tiếng trước, rồi đến ching Cha và các con, cháu phụ họa theo. Khi sử dụng Ching cũng có điều kiêng kỵ. Chủ nhà muốn đem Ching ra đánh thường kính cáo với thần linh để xin phép. Nếu chủ nhà chết thì nhà kiêng đánh Ching trong ba năm.

            Đàn tre: Người Chơ ro gọi là goong kơla, loại nhạc cụ này được làm bằng một ống tre già dài khoảng 50 đến 60 cm. Trên bề mặt ống tre, được tách cật tre thành 5 thanh mỏng dài suốt thân ống tre. Để tạo âm thanh khác nhau, mỗi đầu của thanh cật tre được chống lên bằng các mẩu tre nhỏ. Đàn tre là loại nhạc cụ thường dùng để độc tấu các bản giai điệu như của cồng chiêng…Tính năng thể hiện rất đa dạng và phong phú ở các tiết tấu nhanh hoặc chậm, trầm lặng hoặc sôi động. Âm thanh của nhạc cụ này nghe hơi mờ, tối, độ vang ngắn. Sau khi ăn mừng, những người già làng thường tấu lên những bài nhạc để mọi người cùng nghe.



Đàn tre (goong kơla)​

  Kèn môi: Là nhạc cụ tự tạo bởi một thân cây lồ ô nhỏ, mỏng, chiều dài khoảng 20 cm, rộng 0.2cm. Trong lễ hội, người Chơro dùng kèn môi để cầu chúc điều tốt lành cho những người tham gia lễ hội vui chơi.

 
 Biểu diễn kèn môi

 Kèn lúa: Người Chơro dùng thân cây lúa để làm kèn thổi. Thân cây lúa phải lớn, trong thời gian trổ đòng phải có ống dài và đoạn mắt để khoét lỗ thổi. Trong lễ cúng Sayangva những phụ nữ lớn tuổi thổi kèn lúa với những giai điệu trầm bổng góp vui cho các tiết mục văn nghệ.



 

Kèn lúa

Nguyễn Dung

CÁC TIN KHÁC

Cơ quan chủ quản: BAN DÂN TỘC TỈNH ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 173B đường Cách Mạng Tháng 8, phường Quyết Thắng, Thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: 0613. 843836; Fax: 0613. 941340 - Email: bdt@dongnai.gov.vn
© 2014 Bản quyền thuộc Ban Dân tộc tỉnh Đồng Nai

Phát triển bởi TTCNTT-TT Đồng Nai