Chào mừng ngày bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 - Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh!
Liên kết website
Chuyên mục
Thăm dò ý kiến
Các anh, chị vui lòng cho biết ý kiến về công tác giải quyết thủ tục hành chính của Ban Dân tộc:
Video clip
Văn hóa - Thể thao
Văn nghệ dân gian của người Mạ ở Đồng Nai
Cập nhật 30/11/2018 08:18 Xem với cỡ chữ
            Người Mạ có tên gọi khác là Châu Mạ và có các nhóm địa phương như: Mạ Xốp; Mạ Tô; Mạ Krung; Mạ Ngăn. Tiếng Mạ thuộc nhóm ngôn ngữ  Môn – Khơ me.

Người Mạ ở Đồng Nai có khoảng 2.460 người, xếp thứ 7 trong số 37 dân tộc hiện đang cư trú trên địa bàn tỉnh. Họ sống chủ yếu tập trung tại huyện Tân Phú với tổng số dân là 1.422 khẩu và huyện Định Quán 1.019 khẩu.

Người Mạ sống thành từng Bon (làng)  mỗi bon có từ 5 đến 10 nhà sàn dài (nhà dài là nơi ở của các thế hệ có chung huyết thống). Đứng đầu mỗi Bon là một già làng.

Người Mạ làm nương rẫy trồng lúa và những cây khác như bầu, bí, ngô, thuốc lá, bông… Công cụ sản xuất thô sơ, có các loại dao, xa chà gạc, cuốc xà bách, rìu, gậy chọc lỗ. Họ chăn nuôi theo hình thức bày đàn thả rông lùa vào rừng sống thành đàn chỉ khi cần giết thịt hoặc cần sức kéo mới bắt về.

Phụ nữ Mạ nổi tiếng với nghề dệt vải truyền thống với những hoa văn tinh vi hình hoa lá, chim thú với nhiều màu sắc. Nghề rèn sắt của đàn ông Mạ cũng rất nổi tiếng ở nhiều, họ tự luyện quằng lấy sắt để rèn các công cụ sản xuất và vũ khí. Người Mạ còn làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh bắt hải sản trên sông.

Trang phục của truyền của người Mạ: phụ nữ mặc váy quấn, dài quá bắp chân, nam giới đóng khố. Họ có tục cà răng , căng tai, đeo nhiều vòng trang sức. Trong hôn nhân nhà trai chủ động nhưng chú rễ phải ở rễ đến khi nào nộp đồ hết sính lễ cho nhà gái mới được đem vợ về ở hẳn nhà mình.

Người Mạ tin có rất nhiều thần: Yang (trời) là thần tối cao, ngoài ra còn có thần sông, thần núi, thần lửa… Cũng như các dân tộc khác thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer người Mạ thường tổ chức lễ đâm trâu vào dịp tết cổ truyền.


Lễ hội Yang Koi của người Mạ

Kho tàng văn học dân gian Mạ gồm nhiều truyện cổ, truyền thuyết, huyền thoại độc đáo. Nhạc cụ có bộ kồng chiêng, trống, khèn bầu, đàn ông tre lô ô, sáo vào vỏ trái bầu khô…

- Văn học:

Cư dân Mạ có một kho tàng văn học nghệ thuật dân gian quý giá phản ánh cảnh quan địa lý, môi trường sống và cuộc sống tinh thần khá phong phú và đôc lập của họ. đó là những truyện cổ, những huyền thoại giải thích hoặc đề cập đến tự nhiên, nguồn gốc vũ trụ, truyện về trần lụt đại hồng thủy, nhật thực nguyệt thực, cuộc chiến đấu giữa rắn sông lớn và biển, rèn mặt trời, đẻ đất để người, Thần K Bun…

Qua những truyện cổ, huyền thoại người Mạ muốn nêu lên niềm tự hào về sức mạnh tộc người mình, trong qúa trình đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại và phát triển. Bên cạnh đó là loại truyện kể về loài vật, những truyện kể về tổ tiên người Mạ, về nguồn gốc các ngành nghề thủ công như đan, dệt, rèn… Những truyện hài ngụ ngôn mỗi đêm bên bếp lữa nhà dài quá khứ như sống lại qua lời kể của các cụ già. Trong khung cảnh mênh mông của rừng núi, tiếng cồng chiêng vang xa, ánh lửa bập bùng… nếp sinh hoạt ấy của người Mạ đã góp phần lưu truyền “tinh thần Mạ” thể hiện tình yêu con người với bộ tộc, buôn làng.

+ Những truyện kể bằng vần điệu gọi là Yalyau như bản trường ca tuyệt vời  của người Mạ - đề cập đến nhiều về thiên nhiên, về quan hệ xã hội, gia đình, những ước vọng sâu xa về cuộc sống, về tình yêu hạnh phúc.

+ Hát đối đáp Tăm Pớt là thể loại hát giao duyên phổ biến của  người Mạ. Nổi tiếng nhất là tình ca Pớt giữa chàng K’ Yae và nàng Kông, biểu tượng của tình yêu chung thủy đẹp đẽ của những người Mạ yêu nhau. Tăm Pớt không chỉ nói về tình yêu giữa hai người mà còn phản ánh rất nhiều về xã hội Mạ. Địa hình, núi non, xứ sở, những hoạt động kinh tế rừng núi săn bắt, hái lượm được dùng để cụ thể hóa những cảm xúc trừu tượng của hai người.

+ Luật tục N’du cũng là một sản phẩm văn học dân gian, gồm những câu nói có vần điệu, ý nghĩa của nó không bao giờ thay đổi. Là những quy ước xã hội và cũng là những di sản văn hóa tinh thần. Luật tục này không phải là một bộ luật của hệ thống mà mang hình thức là những phương ngôn, ngạn ngữ được lưu truyền áp dụng thành quy tắc chung.

- Nhạc cụ: 

+ Cồng chiêng: Là nhạc cụ truyền thống chủ yếu của người Mạ, bộ cồng chiêng gồm có 6 chiếc to nhỏ khác nhau và đều không có núm, khi hòa tấu còn có trống da đánh giảo đầu và đổ hồi trước khi kết thúc.

+ Khèn bầu: Người Mạ còn có khèn bầu, là loại khèn có 6 ống dài ngăn khác nhau được kết thành hai bè: bè trên 4 ống, bè dưới 2 ống. Khi thổi khèn thì thổi vào cuống trái bầu khô.

+ Tù và:  Là nhạc cụ làm bằng sừng trâu, thường dùng thổi trong dịp lễ hội và sinh hoạt cộng đồng.

 

Chủ lễ thổi Tù và

+ Đàn lồ ô:  Đàn thường có 6 dây căng trên ống lồ ô, trước đây là nhạc cụ phổ biến trong mỗi gia đình người Mạ, hiện nay chỉ còn một số ít người già trong Bon biết sử dụng loại đàn này, đàn được sử dụng khi rãnh rổi mọi người đánh đàn và hát cho nhau nghe.

            + Sáo trúc:  Là loại sáo có 3 lỗ được gắn vào trái bầu khô để khuếch đại âm thanh.

Vào những dịp lễ hội lớn như lễ hội đâm trâu cũng là thời điểm mà tiếng nhạc đồng của người Mạ sẽ nổi lên trầm hùng nhất.

Nguyễn Dung

CÁC TIN KHÁC

Cơ quan chủ quản: BAN DÂN TỘC TỈNH ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 173B đường Cách Mạng Tháng 8, phường Quyết Thắng, Thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: 0613. 843836; Fax: 0613. 941340 - Email: bdt@dongnai.gov.vn
© 2014 Bản quyền thuộc Ban Dân tộc tỉnh Đồng Nai

Phát triển bởi TTCNTT-TT Đồng Nai