Chào mừng ngày bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 - Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh!
Liên kết website
Chuyên mục
Thăm dò ý kiến
Các anh, chị vui lòng cho biết ý kiến về công tác giải quyết thủ tục hành chính của Ban Dân tộc:
Video clip
Hoạt động chuyên ngành
Một số điểm mới về kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018
Cập nhật 27/11/2019 15:26 Xem với cỡ chữ

          Ngày 20/11/2018, Quốc hội đã ký ban hành Luật số 36/2018/QH14 về Luật Phòng, chống tham nhũng (Luật này có hiệu lực thi hành từ 01/7/2019). Theo đó, Luật mới đã ban hành ra nhiều quy định mới mà nổi bật là một số điểm mới về kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Cụ thể:

Một là, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định tất cả cán bộ, công chức đều phải kê khai tài sản, thu nhập.

Theo quy định tại điều 44 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, quy định: Cán bộ từ Phó trưởng phòng của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên và tương đương trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị; Một số cán bộ, công chức tại xã, phường, thị trấn; người làm công tác quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Còn theo quy định tại điều 34 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, quy định những người sau đây có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập:

“1. Cán bộ, công chức.

2. Sĩ quan Công an nhân dân; sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp.

3. Người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

4. Người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.”

Như vậy, đối tượng phải thực hiện kê khai tài sản, thu nhập đã được mở rộng hơn so với quy định của Luật cũ và các đối tượng quy định tại điều 34 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 phải thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập lần đầu trong năm 2019 này.

Hai là, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 bổ sung các tài sản, thu nhập phải kê khai

Cũng như quy định tại điều 45 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định người thuộc đối tượng kê khai phải thực hiện kê khai các loại tài sản như: Nhà, đất; kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá mà mỗi tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên và tài sản, tài khoản ở nước ngoài. Nhưng đến Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 bổ sung như sau:

 “Điều 35. Tài sản, thu nhập phải kê khai

1. Tài sản, thu nhập phải kê khai bao gồm:

a) Quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng;

b) Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và động sản khác mà mỗi tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng trở lên;

c) Tài sản, tài khoản ở nước ngoài;

d) Tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai.

2. Chính phủ quy định mẫu bản kê khai và việc thực hiện kê khai tài sản, thu nhập quy định tại Điều này.” - điều 35 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

Theo đó, Luật mới có yêu cầu các đối tượng kê khai tài sản, thu nhập phải kê khai thêm các loại tài sản như: Công trình xây dựng, tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng và kê khai tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai.

Ba là, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định mới về trường hợp phải kê khai bổ sung.

Theo quy định tại khoản 2, điều 36 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018, việc kê khai bổ sung được thực hiện khi người có nghĩa vụ kê khai có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 300.000.000 đồng trở lên. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 của năm có biến động về tài sản, thu nhập, trừ trường hợp đã kê khai hằng năm theo quy định tại Khoản 3 Điều 36.

Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A trong năm 2020 có biến động tăng về tài sản là 300.000.000 đồng thì trước ngày 31/12/2020 ông A phải kê khai tài sản, thu nhập bổ sung. Trừ trường hợp Ông Nguyễn Văn A – công chức làm công tác tổ chức cán bộ cơ quan X, trong năm 2020 có biến động tăng về tài sản là 300.000.000 đồng nhưng do trước ngày 31/12/2020 ông A đã thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập năm 2020 (do ông A làm công tác tổ chức cán bộ phải thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập hàng năm) thì ông không phải kê khai bổ sung trong năm 2020.

Bốn là, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định cụ thể thời điểm kê khai tài sản, thu nhập cho các trường hợp cụ thể.

Trước đây, Luật cũ không quy định cụ thể về thời điểm phải kê khai tài sản, thu nhâp, tuy nhiên Luật mới đã khắc phục được điều này và quy định khá cụ thể về thời điểm kê khai tài sản, thu nhập. Theo đó, thời điểm kê khai tài sản thu nhập được quy định tại điều 36 Luật Phòng chống tham nhũng 2018 như sau:

“1. Kê khai lần đầu được thực hiện đối với những trường hợp sau đây:

a) Người đang giữ vị trí công tác quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 34 của Luật này tại thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 năm 2019;

b) Người lần đầu giữ vị trí công tác quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 34 của Luật này. Việc kê khai phải hoàn thành chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày được tiếp nhận, tuyển dụng, bố trí vào vị trí công tác.

3. Kê khai hằng năm được thực hiện đối với những trường hợp sau đây:

a) Người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở lên. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12;

b) Người không thuộc quy định tại điểm a khoản này làm công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác theo quy định của Chính phủ. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12.

4. Kê khai phục vụ công tác cán bộ được thực hiện đối với những trường hợp sau đây:

a) Người có nghĩa vụ kê khai quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 34 của Luật này khi dự kiến bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử giữ chức vụ khác. Việc kê khai phải hoàn thành chậm nhất là 10 ngày trước ngày dự kiến bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử giữ chức vụ khác;

b) Người có nghĩa vụ kê khai quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật này. Thời điểm kê khai được thực hiện theo quy định của pháp luật về bầu cử.”

Năm là, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định cụ thể về các hình thức xử lý đối với các trường hợp kê khai tài sản, thu nhập không trung thực có thể bị buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm.

Theo Điều 51 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, cán bộ, công chức, người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì tùy mức độ có thể bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm. Cụ thể:

“1. Người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử.

2. Người được dự kiến bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử giữ chức vụ mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì không được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử vào chức vụ đã dự kiến.

3. Người có nghĩa vụ kê khai không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm; nếu được quy hoạch vào các chức danh lãnh đạo, quản lý thì còn bị đưa ra khỏi danh sách quy hoạch; trường hợp xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm thì có thể xem xét không kỷ luật...” -  theo Điều 51 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 20/11/ 2018 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2019. Theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 thì việc tổ chức kê khai tài sản, thu nhập và việc kê khai của người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định của Luật; việc kê khai sẽ thực hiện theo mẫu do Chính phủ quy định. Hiện nay, dự thảo Nghị định về kiểm soát tài sản, thu nhập đã trình Chính phủ xem xét cho ý kiến, tuy nhiên, một số nội dung vẫn còn có ý kiến khác nhau, cần xin thêm ý kiến của cơ quan chức năng để thống nhất trước khi Chính phủ ban hành. Do đó, việc tổ chức thực hiện kê khai tài sản, thu nhập năm 2019 sẽ thực hiện khi Nghị định được ban hành và có hiệu lực pháp luật./.

                                                                                          Nguyễn Thị Phương          ​

CÁC TIN KHÁC
» Công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đồng Nai năm 2019 (01/12/2019 16:33)
» Kết quả tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đồng Nai năm 2019 (28/11/2019 14:38)
» Đại hội Đại biểu các DTTS tỉnh Đồng Nai: Tập trung nguồn lực phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số (21/11/2019 10:50)
» Lãnh đạo Ban Dân tộc ban hành quyết định phê duyệt kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2020 (18/11/2019 16:35)
» Khối Thi đua 3 tổ chức về nguồn tại xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu (28/10/2019 09:06)
» Lễ ra quân Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019 tại xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom (09/10/2019 09:32)
» Quân khu 7 tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng và An ninh cho Già làng, Trưởng bản, Trưởng họ tộc năm 2019 (09/10/2019 08:54)
» Thứ trưởng Lê Sơn Hải đến thăm và làm việc tại Đồng Nai (07/10/2019 10:27)
» Lãnh đạo Cơ quan công tác dân tộc đến thăm và chúc tết cổ truyền Sen Đôn Ta của đồng bào dân tộc khmer (03/10/2019 10:07)
» Kiểm tra việc thực hiện một số chính sách dân tộc trên địa bàn UBND thành phố Long Khánh (26/09/2019 15:25)
1 - 10 Next

Cơ quan chủ quản: BAN DÂN TỘC TỈNH ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 173B đường Cách Mạng Tháng 8, phường Quyết Thắng, Thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: 0613. 843836; Fax: 0613. 941340 - Email: bdt@dongnai.gov.vn
© 2014 Bản quyền thuộc Ban Dân tộc tỉnh Đồng Nai

Phát triển bởi TTCNTT-TT Đồng Nai